Đánh nhau bị xử phạt thế nào? Luật sư chuyên tư vấn bào chữa án đánh nhau
Đánh nhau bị xử phạt thế nào? Luật sư chuyên tư vấn bào chữa án đánh nhau
Đánh nhau bị xử phạt thế nào? Luật sư chuyên tư vấn bào chữa án đánh nhau
Bộ luật hình sự về đánh nhau, cố ý gây thương tích và mức xử phạt mới nhất
Đánh nhau gây mất trật tự công cộng, đánh nhau gây thương tích cho người khác là các hành vi vi phạm pháp luật quá đỗi phổ biến trong đời sống. Vậy hành vi này bị xử phạt thế nào theo quy định mới nhất trong bộ luật hình sự đánh nhau?
Luật hình sự cố ý gây thương tích: Gây thương tích bao nhiêu % sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự?
1. Đánh nhau gây mất trật tự công cộng bị phạt bao nhiêu tiền?
Đánh nhau là một trong những hành vi vi phạm quy định về trật tự công cộng. Trong đó, khoản 2 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định:
2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau
Như vậy, nếu thực hiện hành vi đánh nhau, những người tham gia có thể bị phạt hành chính từ 500.000 - 01 triệu đồng.
2. Đánh nhau gây thương tích cho người khác xử lý thế nào?
Khác với hành vi đánh nhau gây mất trật tự công cộng nêu trên, ngoài việc bị phạt hành chính, hành vi đánh nhau gây thương tích cho người khác còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
2.1. Về mức phạt hành chính
Nếu đánh nhau gây thương tích cho người khác mà tỷ lệ thương tích dưới 11% và không thuộc một trong các trường hợp đặc biệt thì người vi phạm sẽ bị bị phạt hành chính theo điểm e khoản 3 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP.
Theo đó, mức phạt được quy định với hành vi cố ý gây thương tích cho người khác là phạt tiền từ 02 - 03 triệu đồng.
2.2. Trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Theo Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì phạm tội cố ý gây thương tích:
- Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
- Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
- Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
- Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;
- Có tổ chức;
- Có tính chất côn đồ…
Mức phạt cơ bản của Tội cố ý gây thương tích là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Đối với các trường hợp tăng nặng khác, tùy vào tính chất, mức độ thương tích gây ra, người phạm tội có thể bị phạt tù có thời hạn đến 12 năm hoặc thậm chí là tù chung thân, cụ thể:
Phạt tù từ 02 - 06 năm khi phạm tội thuộc một trong các trường hợp:
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;
- Phạm tội 02 lần trở lên;
- Tái phạm nguy hiểm…
Phạt tù từ 05 - 10 năm khi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau:
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%...
Phạt tù từ 07 - 14 năm khi phạm tội thuộc một trong các trường hợp:
- Làm chết người;
- Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên…
Nặng nhất, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 12 - 20 năm hoặc tù chung thân khi phạm tội thuộc một trong hai trường hợp:
- Làm chết 02 người trở lên;
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp đặc biệt quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134.
Người ra người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
3. Dưới 18 tuổi đánh nhau gây thương tích có bị xử lý hình sự?
Điều 12 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau:
1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.
Theo quy định trên, nếu có hành vi cố ý gây thương tích thuộc trường hợp truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 134, người dưới 18 tuổi sẽ bị xử lý hình sự như sau:
- Từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm;
- Từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Trong đó, tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 - 15 năm tù.
Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 - 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.
Như vậy, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu có hành vi phạm tội cố ý gây thương tích thuộc các trường hợp tăng nặng tại khoản 3, 4, 5 Điều 134.
4. Đánh người trộm chó có bị xử lý hình sự ?
Hành vi đánh người trộm chó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội cố ý gây thương tích nếu gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc trường hợp quy định tại khoản 1, Điều 134
Khoản 6, Điều 134 quy định người nào thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích cho người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm
Về việc quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có quy định như sau:
Điều 17. Đồng phạm
1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.
2. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.
3. Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.
Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.
Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.
Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.
Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.
4. Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.
Điều 58. Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm
Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm.
Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc người đồng phạm nào, thì chỉ áp dụng đối với người đó.
5. Nhờ người khác đánh người bị xử lý thế nào ?
Căn cứ điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Điều 17. Đồng phạm
1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.
2. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.
3. Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.
Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.
Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.
Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.
Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.
4. Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.
Theo đó, nhờ người khác đánh người có thể sẽ bị xác định là người tổ chức, chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy người khác thực hiện tội phạm còn người trực tiếp gây thương tích sẽ bị xác định là người thực hành trực tiếp thực hiện tội phạm. Ở đây, người nhờ đánh và người đánh đều là đồng phạm cho nên có thể sẽ phải chịu hình phạt và mức phạt như nhau trừ trường hợp có những tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng hình phạt khác nhau.
Về hình phạt, có thể xác định đây là hành vi cố ý gây thương tích và căn cứ Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì tùy vào các tình tiết của vụ án mà người phạm tội này có thể chịu hình phạt là cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù có thời hạn với mức tối đa là tù chung thân.
6. Chế tài đối với người có hành vi đánh nhau gây thương tích là gì ?
Căn cứ điểm a, khoản 3, điều 134, Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có quy định về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, như sau:
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;
Theo quy định trên, hành vi cố ý gây thương tích khiến người bị hại bị tổn thương cơ thể trên 61 % thì có thể bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm theo quy định tại Khoản 3, Điều 134 nêu trên. Đối chiếu với quy định về phân loại tội phạm thì đây có thể coi là tội phạm rất nghiêm trọng.
Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có quy định về Tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau:
Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự
1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.
Theo quy định trên, em trai của bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích.
Ngoài ra, hành vi của em trai bạn còn phải chịu trách nhiệm bồi thường do xâm phạm đến sức khoẻ của người khác theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015. Cụ thể:
Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.
Điều 586. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân
1. Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.
2. Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.
Điều 590. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm
1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;
d) Thiệt hại khác do luật quy định.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
7. Khái niệm đánh người gây thương tích
Đánh người gây thương tích là hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe người khác. Mức độ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội sẽ dựa trên tỷ lệ tổn thương cơ thể và những tình tiết tăng nặng mà luật hình sự cố ý gây thương tích quy định
Về cơ bản, tỷ lệ tổn thương cơ thể của người bị hại từ 11% trở lên thì người có hành vi gây thương tích sẽ bị khởi tố hình sự.
Tuy nhiên, có một số trường hợp, dù tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% vẫn sẽ bị khởi tố hình sự vì tính chất nguy hiểm và ảnh hưởng tới xã hội của hành vi.
8. Xác định tỷ lệ tổn thương đối với cơ thể
Tỷ lệ tổn thương cơ thể được xác định theo phương pháp xác định tổn thương cơ thể được quy định tại Điều 4 Thông tư 22/2019/TT-BYT.
Cách xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể dựa trên phương pháp cộng các phần tỷ lệ % tổn thương cơ thể khác nhau được quy định tại bảng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể hay tổn hại sức khỏe ban hành kèm theo Thông tư 22/2019/TT-BYT.
Lưu ý: thương tích và thương tật trong vụ án hình sự là hai khái niệm khác nhau:
▪ Thương tích: tình trạng vết thương trên cơ thể do bị tổn thương vì tai nạn, bom đạn hay do các hành vi phạm tội gây nên.
▪ Thương tật: những dị tật đã được cơ quan có thẩm quyền xác định sau khi vết thương đã được điều trị.
Dù hai khái niệm khác nhau nhưng cách xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể đều dựa vào Thông tư 22/2019/TT-BYT để tiến hành giám định.
9. Mức xử phạt đối với hành vi đánh người gây thương tích
Hành vi đánh người gây thương tích là hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật Hình sự 2015, bất kỳ chủ thể nào thực hiện hành vi này đều sẽ phải chịu mức xử phạt khác nhau tùy vào tỷ lệ tổn thương cơ thể mà người bị đánh phải chịu:
▪ Tỷ lệ từ 11% – 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc các trường hợp đặc biệt tại khoản 1,Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015: bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;
▪ Tỷ lệ từ 31% – 60%: phạt tù từ 02 năm đến 06 năm;
▪ Tỷ lệ từ 61% trở lên: tùy vào mức độ NGUY HIỂM và tỷ lệ thương tổn cơ thể trên thực tế để áp dụng mức xử phạt tương ứng: từ 07 năm – 20 năm hoặc tù chung thân.
10. Khi nào gây thương tích dưới 11% bị khởi tố hình sự ?
Theo Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017), các trường hợp đánh người gây thương tích dưới 11% vẫn bị khởi tố hình sự:
▪ Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
▪ Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
▪ Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
▪ Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;
▪ Có tổ chức;
▪ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
▪ Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
▪ Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;
▪ Có tính chất côn đồ;
▪ Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
Các hành vi này này được xác định căn cứ trên mức độ nguy hiểm của hành vi, gây ra những hậu quả lớn cũng như ảnh hưởng tiêu cực đến người bị hại và xã hội.
11. Đánh nhau có được xử cải tạo không giam giữ không?
1. Khái quát chung về hình phạt cải tạo không giam giữ:
1.1. Hình phạt cải tạo không giam giữ là gì?
Hình phạt cải tạo không giam giữ được quy định trong Bộ luật Hình sự Việt Nam, thể hiện quan điểm nhân đạo và chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta đối với người phạm tội, đồng thời chứng tỏ khả năng tự giáo dục cải tạo trở thành người có ích cho xã hội của họ. Đó là một trong những biện pháp nhằm cải thiện hiệu quả của công tác đấu tranh phòng chống, giáo dục, cảm hóa và cải tạo người phạm tội để giúp họ sớm cải tạo tái hòa nhập cộng đồng.
Hình phạt cải tạo không giam giữ được đề cập đến lần đầu tiên trong Luật Nghĩa vụ quân sự được Quốc Hội thông qua ngày 30 tháng 12 năm 1981. Khoản 1 Điều 69 Luật này quy định như sau: Người nào đang ở lứa tuổi làm nghĩa vụ quân sự mà không chấp hành đúng những quy định về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện thì tùy từng mức độ nặng/nhẹ mà bị xử lý bằng biện pháp hành chính, bị phạt cải tạo không giam giữ từ 3 tháng đến 2 năm hoặc bị phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm.
Kế thừa các văn bản pháp luật trước đó, Điều 36 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về hình phạt cải tạo không giam giữ. Theo đó: Cải tạo không giam giữ được áp dụng từ 06 tháng đến 03 năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật Hình sự quy định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội. Nếu người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ.
Ngoài ra, trong giáo trình Luật hình sự Việt Nam của trường Học viện Tư pháp đã chỉ ra: Đây là một loại hình phạt không tước đi sự tự do của người bị kết án mà họ được cải tạo ngoài xã hội với sự giám sát giáo dục và giúp đỡ của gia đình, cơ quan, tổ chức xã hội và cộng đồng từ 6 tháng đến 3 năm.
Từ những phân tích nêu trên, có thể đưa ra quan điểm về hình phạt cải tạo không giam giữ như sau:
“Hình phạt cải tạo không giam giữ là một trong những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước do pháp luật hình sự Việt Nam quy định, người bị kết án không bị cách ly khỏi xã hội mà được giao cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục, trong trường hợp họ phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng và tòa án xét thấy không cần thiết phải cách ly cá nhân đó ra khỏi xã hội cũng đủ để giáo dục và cải tạo họ trở thành người tốt.”
1.2. Đặc điểm của hình phạt cải tạo không giam giữ:
Cải tạo không giam giữ là một trong những loại hình phạt chính theo quy định tại điều 32 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đây là một loại hình phạt trong hệ thống hình phạt, do đó cải tạo không giam giữ bao những đặc điểm chung như sau:
- Thứ nhất, đây là biện pháp cưỡng chế về hình sự nghiêm khắc nhất so với tất cả các biện pháp cưỡng chế hình sự khác của Nhà nước mà việc áp dụng nó đối với người bị kết án sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý là người đó bị coi là “có án tích”.
- Thứ hai, hình phạt này do một cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự đó là Tòa án áp dụng và chỉ áp dụng đối với người bị kết án trong bản án có hiệu lực pháp luật.
- Thứ ba, hình phạt này chỉ được quy định trong bộ luật hình sự hiện hành, được tòa án áp dụng theo một trình tự đặc biệt do pháp luật tố tụng hình sự quy định đối với riêng người bị kết án.
Bên cạnh đó, cải tạo không giam giữ còn mang những đặc điểm riêng giúp phân biệt hình phạt cải tạo không giam giữ với các hình phạt khác. Cụ thể như sau:
- Thứ nhất, hình phạt cải tạo không giam giữ là một trong những hình phạt phản ánh nguyên tắc nhân đạo của chính sách hình sự nói chung và của pháp luật hình sự Việt Nam nói riêng. Bên cạnh hàng loạt các chế định khác như: Trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự… thì việc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ kết hợp nhuần nhuyễn, phát huy hiệu quả cao giữa chừng trị và cải tạo giáo dục. Bản chất của hình phạt vẫn là sự hạn chế tự do thể hiện ở việc người bị kết án dù được cải tạo, giáo dục tại địa phương nhưng tự bản thân họ luôn biết rằng mọi việc họ làm đều bị theo dõi và giám sát bởi cơ quan chức năng, không được hoàn toàn tự do như bình thường.
- Thứ hai, trong số các hình phạt không phạt tù, hình phạt cải tạo không giam giữ là hình phạt chính nặng nhất, hình phạt này chỉ đứng sau hình phạt tù có thời hạn, các trường hợp phạm tội bị áp dụng hình phạt này khi mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi không lớn hoặc chưa đến mức phải chịu hình phạt tù.
- Thứ ba, hình phạt cải tạo không giam giữ buộc người bị kết án phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội. Người bị kết án được thi hành án trong môi trường bình thường trước sự giám sát và giáo dục của chính quyền địa phương, cơ quan tổ chức. Việc quy định và áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Việt Nam đối với những người bị kết án, mặc dù họ đã thực hiện hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội. Người phạm tội phải tự ý thức được việc cải tạo mình, tự sửa chữa bản thân và chấp hành đầy đủ nghiêm chỉnh đường lối chính sách của pháp luật, của nhà nước, tích cực tham gia lao động, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân, quy định của địa bàn dân cư nơi họ cư trú.
- Thứ tư, khi bị tuyên cải tạo không giam giữ thì người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về cải tạo không giam giữ, đồng thời bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ Nhà nước.
11. Dịch vụ luật sư tư vấn bộ luật hình sự đánh nhau, gây thương tích
HÌNH ẢNH LS TRẦN MINH HÙNG - LS GIỎI VÀ GIÀU KINH NGHIỆM BÀO CHỮA NHIỀU VỤ ÁN LỚN NÊN ĐƯỢC NHIỀU ĐÀI TRUYỀN HÌNH QUỐC GIA NHƯ HTV, VTV,VOV,VOH, TRUYỀN HÌNH CÔNG AN ANTV, TRUYỀN HÌNH QUỐC HỘI VIỆT NAM, QUỐC PHÒNG, TÂY NINH, CẦN THƠ, BÌNH DƯƠNG, TRUYỀN HÌNH VĨNH LONG, TƯ VẤN LUẬT TRÊN BÁO CHÍ CHÍNH THỐNG, NHIỀU TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỜI PHỎNG VẤN, CHIA SẼ KINH NGHIỆM, TRAO ĐỔI PHÁP LÝ, GÓP Ý KIẾN PHÁP LÝ CHO NGƯỜI DÂN, SINH VIÊN, CHO CÁC CHUYÊN GIA.
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ GIA ĐÌNH Với phương châm chủ đạo “LUẬT SƯ CỦA GIA ĐÌNH BẠN”, Tên LUẬT SƯ GIA ĐÌNH không có nghĩa chúng tôi chỉ chuyên về hôn nhân gia đình, mà nghĩa là Chúng tôi là Luật sư của Gia Đình Bạn, Luật sư của mọi người. Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội.
Luật sư Trần Minh Hùng – Tốt nghiệp đại học Luật TPHCM, tốt nghiệp Học viện Tư Pháp, Tốt nghiệp Luật sư, thuộc Đoàn LS TPHCM, Thuộc Liên đoàn LSVN là một trong những luật sư sáng lập văn phòng luật, giàu kinh nghiệm về kiến thức và thực tiễn đã dành nhiều thắng lợi vụ kiện và quan trọng luật sư Hùng luôn coi trọng chữ Tâm của nghề luật sư và trách nhiệm đối với xã hội nên đã được nhiều hãng báo chí, truyền thông, Đài truyền hình, Đài tiếng nói Việt nam phỏng vấn pháp luật, nhiều lĩnh vực quan trọng liên quan đến đời sống. Luật sư Trần Minh Hùng là đối tác tư vấn pháp luật được nhiều hãng truyền thông, báo chí trong nước tin tưởng với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn trên VOV Giao Thông – Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh VOH TPHCM, Đài truyền hình TP.HCM (HTV), Đài truyền hình Việt Nam (VTV), Truyền hình SCTV, THĐN, Truyền hình Quốc Hội VN, Truyền hình Công an ANTV, Đài truyền hình Vĩnh Long, Đài phát thanh kiên giang, Đài Bình Dương, Truyền hình Quốc Phòng, VTC... và các hãng báo chí trên cả nước, được các tổ chức, trường Đại học Luật TP.HCM mời làm giám khảo các cuộc thi Phiên tòa giả định với Đại học cảnh sát, mời làm chuyên gia ý kiến về các sự kiện lớn, được mời dạy bồi dưỡng nghiệp vụ cho các luật sư……là đối tác tư vấn luật của các hãng truyền thong, các tổ chức, xã hội uy tín và chuyên nghiệp và luôn mang lại niềm tin cho khách hàng và ghi nhận sự đóng góp của chúng tôi cho xã hội...là luật sư bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ Ngân hàng Navibank liên quan Huyền Như Viettinbank, các vụ Giết Người do mâu thuẫn hát karaoke tại Bình Chánh, Bào chữa chủ tịch Huyện Đông Hòa – Phú Yên, Đại án Vụ cướp bitcoin 35 tỷ Long Thành- Dầu Dây, Bào chữa vụ Đại Án Đăng Kiểm, Bào chữa vụ đại án Khai thác Cát Cần giờ, Đại án giả mạo trong công tác công ty ASL và Công ty AVATEK, đưa nhận hối lộ, Bào chữa bị cáo Huân không đeo khẩu trang mùa Covit, Vụ Nữ sinh Tân Bình bị cắt tai, bảo vệ cho MC Trấn Thành, Bào chữa, bảo vệ vụ "Bác sĩ khoa rút ống thở", Bảo vệ cho người cho thuê nhà vụ Công ty Thế giới Di Động không trả tiền thuê nhà mùa dịch covid, Tư vấn cho nghệ sĩ Thương Tín, bảo vệ vụ đổ xăng đốt 10 người tại TPHCM, Bảo vệ thành công vụ 1 bệnh nhân bị xông hơi chết tại nhà bè,bảo vệ cho 27 bị hại vụ lừa đảo đất nền Nguyễn Thanh Uyn và đồng phạm, Vụ đại án đưa hối lộ, giả mạo trong công tác công ty TSL, Avatek. Bảo vệ Ni cô Vụ kiện hành chính đòi nhà, bào chữa nhiều vụ án ma túy đỉnh điểm, các vụ Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, cưỡng đoạt, cướp, gây thương tích, tham ô, mua bán ma túy, cố ý làm trái, bào chữa vụ án cựu Cảnh sát Buôn Lậu và các bị cáo kiên quan, bào chữa vụ chiếm đoạt tiền công nghệ của nước Úc của bị can về công nghệ, bào chữa vụ Mua bán khẩu trang mùa covid, bào chữa nhiều vụ án ma túy, bào chữa vụ lợi dụng chức vụ quyền hạn của tổ chức tín dụng ngân hàng... .… và rất nhiều các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi..…là hãng luật tư vấn luật cho nhiều công ty Việt Nam và nước ngoài trên cả nước luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.
Chúng tôi hội đủ các luật sư chuyên về các lĩnh vực, kinh nghiệm, chuyên sâu như: hình sự, dân sự, kinh tế, thừa kế, hợp đồng, đất đai, ly hôn, dịch vụ nhà đất, di chúc, lao động…
Đối tác tư vấn pháp luật của các tờ báo uy tín, đài truyền hình uy tín, nhiều khách hàng, đối tác, doanh nghiệp như: Khoa Luật đại học Mở TPHCM, Đại học luật TPHCM, Cao đẳng Nghề Phú Lâm, Công ty chế biến trái cây Yasaka (Nhật bản), Công ty Nam Chê (Hàn Quốc), Công ty Cổ phần thương mại dịch vụ Bến Thành (Cổ phần nhà nước), Công ty TNHH Kỹ Thuật Năng Lượng, Công ty Vina Buhmwoo (Hàn Quốc), Công ty ECO SYS Kim Trường Phát (Hàn Quốc), Công ty cổ phần BĐS BiG Land, Công ty TNHH dược phẩm AAA, Công ty TNHH Hanwa Kakoki Việt Nam (Nhật Bản), Công ty TNHH DV BV Ti Tan, Công ty CP Chuỗi Nông sản Sài gòn, Công ty CP BĐS Happy Land S, Công ty CP SG Xây dựng (cổ phần hóa nhà nước), Công ty CP Maduphar, Công ty Thủy sản Đắc Lộc (Phú Yên), Công ty Thủy Sản Ocean Country, Công ty Blue Bay, Công ty Gallent, Công ty Hàn Quốc DEASUNG, Công ty Innoluk, Công ty TNHH FURUSHIMA VIỆT NAM, Công ty Kim Trường Phát (Hàn Quốc), Công ty VEDAN , Bệnh viện MVN (Việt – Nga), Công ty Yasaka …và nhiều công ty, khách hàng khác trên khắp cả nước.
Quý khách có nhu cầu tư vấn về pháp luật thừa kế, tranh chấp thừa kế là nhà và đất, làm di chúc, khai nhận di sản theo pháp luật hoặc di chúc, bào chữa án hình sự, đất đai, ly hôn, kinh tế, hợp đồng, doanh nghiệp, thu hồi nợ…. tại thành phố Thủ Đức, Quận 1, Quận 3, Quận 4, Quận 5, Quận 6, Quận 7, Quận 8, Quận 10, Quận 11, Quận 12, Quận Bình Tân, Quận Bình Thạnh, Quận Gò Vấp, Quận Phú Nhuận, Quận Tân Bình, Quận Tân Phú, Huyện Bình Chánh, Huyện Cần Giờ, Huyện Củ Chi, Huyện Hóc Môn, Huyện Nhà Bè hãy nhấc máy gọi ngay cho luật sư chúng tôi để được tư vấn và sử dụng dịch vụ…0972238006 để được tư vấn và hẹn gặp luật sư giàu kinh nghiệm Trần Minh Hùng. Các luật sư giàu kinh nghiệm khác như LS LÊ VĂN THÔNG, CHÂU VĂN VIÊN, LÊ MINH NHẬT, TRẦN TẤN HƯNG, NGUYỄN NGỌC HỒ, HỒ ĐÌNH CƯỜNG…đều là luật sư kinh nghiệm lâu năm tại VPLS GIA ĐÌNH. Ngoài ra, chúng tôi còn chuyên dịch vụ thừa kế, nhà đất, ly hôn, thừa kế, khai nhận thừa kế, giấy phép kinh doanh, di chúc, sang tên nhà đất, làm sổ hồng, sổ đỏ, hoàn công, đổi sổ, cấp mới…và các dịch vụ pháp lý khác.
ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VPLS GIA ĐÌNH (Luật sư Thành Phố).
Văn phòng quận 6: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Q.6, Tp.HCM (Bên cạnh Công chứng số 7)
Văn phòng quận 1: 68/147 Trần Quang Khải (số mới: Trần Nguyên Đán), Tân Định, quận 1, TPHCM
Văn phòng Biên Hòa: 5/1 Nguyễn Du, Biên Hòa, Đồng Nai (đối diện tòa án Biên Hòa)
Điện thoại: 0972238006- 028-38779958; Fax: 08-38779958
Luật sư Trần Minh Hùng: 0972 238006 (zalo, facebook, viber,telegram)
https://www.youtube.com/@LUATSUTUVANBAOCHUA/about
tiktok: www.tiktok.com/@luatsuminhhung
facebook: Trần Minh Hùng
Email: luatsuthanhpho@gmail.com
http://www.luatsugiadinh.net.vn
